Công cụ chuyển đổi CFF sang DDS
Chuyển đổi file cff sang dds trực tuyến và miễn phí
cff
dds
Làm thế nào để chuyển đổi CFF sang DDS
Lựa chọn các tập tin từ Máy tính, Google Drive, Dropbox, URL hoặc bằng cách kéo tập tin vào trang này.
Chọn dds hoặc bất kỳ định dạng nào khác bạn cần chuyển đổi sang (hỗ trợ hơn 200 định dạng)
Hãy để tập tin chuyển đổi và bạn có thể tải tập tin dds của bạn xuống ngay sau đó
Về các định dạng
CFF (Compact Font Format) là định dạng đường viền phông chữ được phát triển bởi Adobe Systems khoảng năm 1996 như phiên bản kế thừa hiệu quả hơn của biểu diễn phông chữ Type 1. CFF sử dụng các charstring Type 2 — một mã hóa tối ưu hỗ trợ nhiều đối số trên mỗi toán tử, lược bỏ giá trị mặc định và các chương trình con chia sẻ — để mô tả cùng các đường viền glyph Bezier bậc ba như Type 1 nhưng với dung lượng lưu trữ ít hơn đáng kể. Một phông chữ CFF điển hình nhỏ hơn 20-50% so với phiên bản Type 1 tương đương. Định dạng có thể hoạt động như tệp phông chữ độc lập hoặc, phổ biến hơn, như bảng dữ liệu đường viền bên trong container phông chữ OpenType (bảng CFF trong tệp OTF với đường viền PostScript). CFF hỗ trợ nhiều phông chữ trong một tệp duy nhất thông qua cấu trúc FontSet, chia sẻ các chương trình con toàn cục trong bộ sưu tập để giảm kích thước hơn nữa. Một ưu điểm là hiệu quả nén mà không làm giảm chất lượng — mọi điểm điều khiển và gợi ý được bảo toàn chính xác, chỉ được mã hóa gọn nhẹ hơn. Định dạng cũng kế thừa toàn bộ khả năng gợi ý của Type 1, bao gồm gợi ý thân, gợi ý đếm và vùng căn chỉnh đảm bảo hiển thị sắc nét trên màn hình và máy in độ phân giải thấp. CFF2, phiên bản phát triển được giới thiệu cùng OpenType 1.8, thêm hỗ trợ biến thể phông chữ (variable fonts) bằng cách cho phép nội suy qua nhiều trục thiết kế. Sự hỗ trợ rộng rãi trong trình xem PDF, trình duyệt web qua OpenType và phần mềm thiết kế chuyên nghiệp khiến CFF trở thành một trong những định dạng đường viền được triển khai rộng rãi nhất trong ngành in số.
DDS (DirectDraw Surface) là định dạng container để lưu trữ texture nén và không nén, cube map, texture thể tích và chuỗi mipmap, được Microsoft giới thiệu cùng với DirectX 7.0 vào ngày 22 tháng 9 năm 1999. File DDS được thiết kế cho GPU sử dụng trực tiếp: dữ liệu pixel được lưu dưới các định dạng mà phần cứng đồ họa có thể giải nén trực tiếp trong quá trình render — chủ yếu là nén khối S3TC/DXTn (DXT1, DXT3, DXT5), và trong các phiên bản DirectX sau là BC4 đến BC7 — loại bỏ bước giải nén phía CPU mà các định dạng như PNG hoặc JPEG yêu cầu. Cấu trúc file bắt đầu với số ma và header 124 byte chỉ định chiều rộng, chiều cao, định dạng pixel, số lượng mipmap và header mở rộng DX10 tùy chọn cho các chế độ nén mới hơn, theo sau là dữ liệu bề mặt thô. DDS hỗ trợ texture 2D, cube map (sáu mặt cho ánh xạ môi trường), texture thể tích/3D và mảng texture, mỗi loại với chuỗi mipmap được tính toán trước cho phép GPU lấy mẫu các phiên bản kích thước phù hợp ở các khoảng cách khác nhau. Một ưu điểm là hiệu suất render: vì GPU đọc dữ liệu DDS trực tiếp mà không có chi phí giải nén, việc tải texture nhanh hơn đáng kể so với các định dạng ảnh truyền thống, và dữ liệu nén vẫn ở trạng thái nén trong bộ nhớ video, cho phép nhiều texture vừa vào VRAM cùng lúc. Sự thống trị của định dạng trong phát triển game là một điểm mạnh then chốt khác — DDS là định dạng texture tiêu chuẩn cho các ứng dụng DirectX, được hỗ trợ gốc bởi Unreal Engine, Unity và hầu như mọi engine game PC, cũng như các trình chỉnh sửa ảnh như GIMP (với plugin), Paint.NET, Photoshop (qua plugin NVIDIA) và ImageMagick.