Công cụ chuyển đổi ARC sang CPIO
Chuyển đổi file arc sang cpio trực tuyến và miễn phí
arc
cpio
Làm thế nào để chuyển đổi ARC sang CPIO
Lựa chọn các tập tin từ Máy tính, Google Drive, Dropbox, URL hoặc bằng cách kéo tập tin vào trang này.
Chọn cpio hoặc bất kỳ định dạng nào khác bạn cần chuyển đổi sang (hỗ trợ hơn 200 định dạng)
Hãy để tập tin chuyển đổi và bạn có thể tải tập tin cpio của bạn xuống ngay sau đó
Về các định dạng
ARC là một trong những định dạng nén đầu tiên được sử dụng rộng rãi trên máy tính cá nhân, do Thom Henderson tại System Enhancement Associates (SEA) tạo ra vào năm 1985 cho MS-DOS. Định dạng này gộp nhiều tệp vào một kho lưu trữ duy nhất với nén riêng từng tệp, hỗ trợ nhiều phương pháp nén bao gồm không nén (stored), mã hóa độ dài chạy (run-length encoding), mã Huffman và các biến thể LZW (Lempel-Ziv-Welch). Mỗi mục tệp trong kho lưu trữ ARC có phần header riêng chứa tên tệp gốc, kích thước nén và gốc, dấu thời gian, mã kiểm tra CRC và chỉ báo phương pháp nén. ARC trở thành định dạng nén thống trị trên các hệ thống bản tin điện tử (BBS) chạy DOS vào giữa những năm 1980, là phương tiện chính để phân phối phần mềm, tài liệu và dữ liệu trực tuyến trước kỷ nguyên internet. Định dạng này đã gây ra một tranh chấp pháp lý đáng chú ý khi Phil Katz tạo ra công cụ tương thích (PKARC), dẫn đến vụ kiện từ SEA và cuối cùng thúc đẩy Katz phát triển định dạng ZIP như một giải pháp hợp pháp. Một ưu điểm của ARC là cách tiếp cận nén riêng từng tệp, cho phép giải nén từng tệp riêng lẻ mà không cần giải nén toàn bộ kho lưu trữ. Mã kiểm tra CRC tích hợp mang lại thêm một lợi ích, cho phép xác minh độ toàn vẹn dữ liệu một cách đáng tin cậy sau khi truyền qua các kết nối modem hay bị lỗi. Mặc dù ZIP và các định dạng hiện đại hơn đã thay thế ARC vào đầu những năm 1990, định dạng này vẫn có ý nghĩa lịch sử quan trọng như một công nghệ nền tảng trong quá trình phát triển của nén dữ liệu và phân phối tệp.
CPIO (Copy In, Copy Out) là định dạng lưu trữ Unix có từ hệ thống PWB/UNIX tại AT&T Bell Labs vào năm 1977, xuất hiện trước cả định dạng tar. Tên gọi mô tả thao tác ban đầu của công cụ: sao chép tệp vào kho lưu trữ và sao chép tệp ra khỏi kho lưu trữ. CPIO lưu trữ các tệp tuần tự với phần header cho từng tệp chứa tên tệp, thông tin inode, quyền truy cập, quyền sở hữu, dấu thời gian và kích thước tệp, tiếp theo là dữ liệu tệp. Định dạng tồn tại dưới nhiều biến thể: định dạng nhị phân gốc, định dạng ODC (hướng octet) theo POSIX.1, định dạng newc của SVR4 với các trường thiết bị và inode mở rộng, và biến thể CRC bổ sung xác minh mã kiểm tra. Khác với tar, CPIO đọc danh sách tệp cần lưu trữ từ đầu vào chuẩn, giúp nó kết hợp tự nhiên với find và các tiện ích Unix khác thông qua ống dẫn (pipe). Một ưu điểm là bảo toàn siêu dữ liệu Unix trung thực — CPIO ghi lại số thiết bị, thông tin inode và mối quan hệ liên kết cứng với độ chính xác cao hơn các phiên bản tar trước đó, phù hợp cho sao lưu cấp hệ thống và lưu trữ tệp thiết bị. Vai trò trung tâm của định dạng trong quản lý gói Linux là một ý nghĩa thực tiễn khác: định dạng gói RPM sử dụng CPIO làm chứa dữ liệu bên trong, nghĩa là mọi hệ thống Linux dựa trên RPM đều phụ thuộc vào việc giải nén CPIO. Mặc dù tar đã trở nên phổ biến hơn cho lưu trữ tổng quát, CPIO vẫn được sử dụng trong quản trị hệ thống, ảnh initramfs và hạ tầng quản lý gói.