Công cụ chuyển đổi TAR.LZO (TLZO) sang CPIO

Chuyển đổi file tar.lzo sang cpio trực tuyến và miễn phí

Thả tập tin ở đây. 1 GB Kích thước file tối đa hoặc là Đăng ký
đến
Facebook Amazon Microsoft Tesla Nestle Walmart L'Oreal

Làm thế nào để chuyển đổi TAR.LZO sang CPIO

1

Lựa chọn các tập tin từ Máy tính, Google Drive, Dropbox, URL hoặc bằng cách kéo tập tin vào trang này.

2

Chọn cpio hoặc bất kỳ định dạng nào khác bạn cần chuyển đổi sang (hỗ trợ hơn 200 định dạng)

3

Hãy để tập tin chuyển đổi và bạn có thể tải tập tin cpio của bạn xuống ngay sau đó

Về các định dạng

TAR.LZO is a compound archive format pairing TAR archiving with LZO (Lempel-Ziv-Oberhumer) compression, created by Markus Oberhumer in 1996. The TAR layer bundles files with Unix metadata, and the LZO algorithm compresses the stream prioritizing decompression speed above all else. LZO is an asymmetric compressor — it sacrifices compression ratio for extremely fast decompression, operating at speeds that approach raw memory bandwidth on modern hardware. This makes TAR.LZO ideal for scenarios where archives must be extracted quickly and frequently, such as real-time backup systems and embedded device firmware images. One advantage is decompression performance — LZO extraction is several times faster than gzip and an order of magnitude faster than bzip2, critical for time-sensitive operations like boot-time filesystem initialization or rapid backup restoration. The low CPU overhead during extraction is another strength, making TAR.LZO practical on resource-constrained embedded systems and for streaming decompression without buffering. The lzop command-line tool integrates with tar via pipeline, and the format is used in the Linux kernel's initramfs, Btrfs filesystem compression, and various real-time data processing systems where extraction latency matters more than archive size.
Nhà phát triển: Markus Oberhumer
Phát hành lần đầu: 1996
CPIO (Copy In, Copy Out) là định dạng lưu trữ Unix có từ hệ thống PWB/UNIX tại AT&T Bell Labs vào năm 1977, xuất hiện trước cả định dạng tar. Tên gọi mô tả thao tác ban đầu của công cụ: sao chép tệp vào kho lưu trữ và sao chép tệp ra khỏi kho lưu trữ. CPIO lưu trữ các tệp tuần tự với phần header cho từng tệp chứa tên tệp, thông tin inode, quyền truy cập, quyền sở hữu, dấu thời gian và kích thước tệp, tiếp theo là dữ liệu tệp. Định dạng tồn tại dưới nhiều biến thể: định dạng nhị phân gốc, định dạng ODC (hướng octet) theo POSIX.1, định dạng newc của SVR4 với các trường thiết bị và inode mở rộng, và biến thể CRC bổ sung xác minh mã kiểm tra. Khác với tar, CPIO đọc danh sách tệp cần lưu trữ từ đầu vào chuẩn, giúp nó kết hợp tự nhiên với find và các tiện ích Unix khác thông qua ống dẫn (pipe). Một ưu điểm là bảo toàn siêu dữ liệu Unix trung thực — CPIO ghi lại số thiết bị, thông tin inode và mối quan hệ liên kết cứng với độ chính xác cao hơn các phiên bản tar trước đó, phù hợp cho sao lưu cấp hệ thống và lưu trữ tệp thiết bị. Vai trò trung tâm của định dạng trong quản lý gói Linux là một ý nghĩa thực tiễn khác: định dạng gói RPM sử dụng CPIO làm chứa dữ liệu bên trong, nghĩa là mọi hệ thống Linux dựa trên RPM đều phụ thuộc vào việc giải nén CPIO. Mặc dù tar đã trở nên phổ biến hơn cho lưu trữ tổng quát, CPIO vẫn được sử dụng trong quản trị hệ thống, ảnh initramfs và hạ tầng quản lý gói.
Nhà phát triển: AT&T / Unix
Phát hành lần đầu: 1977