Công cụ chuyển đổi ERF (RAW) sang FTS
Chuyển đổi file erf sang fts trực tuyến và miễn phí
erf
fts
Làm thế nào để chuyển đổi ERF sang FTS
Lựa chọn các tập tin từ Máy tính, Google Drive, Dropbox, URL hoặc bằng cách kéo tập tin vào trang này.
Chọn fts hoặc bất kỳ định dạng nào khác bạn cần chuyển đổi sang (hỗ trợ hơn 200 định dạng)
Hãy để tập tin chuyển đổi và bạn có thể tải tập tin fts của bạn xuống ngay sau đó
Về các định dạng
ERF là định dạng ảnh RAW độc quyền được sử dụng bởi các máy ảnh rangefinder kỹ thuật số của Epson, đáng chú ý nhất là R-D1 ra mắt năm 2004 — máy ảnh rangefinder kỹ thuật số đầu tiên trên thế giới — và các phiên bản kế tiếp R-D1s và R-D1x. Tệp ERF thu thập đầu ra 12-bit chưa qua xử lý từ cảm biến CCD kích thước APS-C của máy ảnh (chip Bayer 6,1 megapixel), bảo toàn toàn bộ dải tần nhạy sáng và độ sâu màu trước khi tách màu, cân bằng trắng hay xử lý đường cong tông. Định dạng sử dụng cấu trúc vùng chứa dựa trên TIFF với các thẻ siêu dữ liệu đặc thù Epson ghi lại tham số chụp, thông tin ống kính (nhập thủ công qua vòng khẩu độ ống kính, vì ống kính rangefinder không có tiếp điểm điện tử) và chỉ số hiển thị đồng hồ analog độc đáo của máy ảnh. Dòng R-D1 giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử nhiếp ảnh với tư cách là máy ảnh đưa chụp kỹ thuật số đến các ống kính rangefinder ngàm Leica M, và tệp ERF từ các máy ảnh này được giới sưu tầm và người yêu thích trân trọng. Một ưu điểm là đặc tính dựng hình độc đáo: sự kết hợp giữa phản hồi tông màu của cảm biến CCD và chất lượng quang học của ống kính rangefinder cổ điển tạo nên diện mạo đặc biệt trong tệp ERF mà nhiều nhiếp ảnh gia cho rằng gần với phim hơn so với đầu ra từ máy ảnh dựa trên CMOS. Khả năng truy cập thực tế là một thế mạnh khác — dù máy ảnh hiếm, tệp ERF được hỗ trợ bởi Adobe Lightroom, Adobe Camera Raw, dcraw, RawTherapee và các phần mềm xử lý RAW hiện đại khác, đảm bảo các tệp này vẫn hoàn toàn sử dụng được với công cụ hiện tại.
FTS là phần mở rộng file của Hệ thống Vận chuyển Ảnh Linh hoạt (FITS), định dạng dữ liệu tiêu chuẩn được sử dụng trong thiên văn học từ năm 1981 khi được Don Wells, Eric Greisen và R.H. Harten định nghĩa tại Đài Thiên văn Vô tuyến Quốc gia, và sau đó được Liên minh Thiên văn Quốc tế chuẩn thuận vào năm 1982. FITS được thiết kế ngay từ đầu như một định dạng lưu trữ tự mô tả: mỗi file bắt đầu với một hoặc nhiều khối header 2880 byte chứa các cặp từ khóa-giá trị ASCII mô tả các chiều dữ liệu, hệ tọa độ, thông số quan sát và nguồn gốc, theo sau là các khối dữ liệu ở nhiều loại số — số nguyên 8/16/32/64-bit và giá trị dấu phẩy động IEEE 32/64-bit. FITS hỗ trợ mảng nhiều chiều (ảnh, khối dữ liệu, siêu khối), bảng nhị phân cho dữ liệu catalog và bảng ASCII, với nhiều Đơn vị Header/Dữ liệu (HDU) có thể cùng tồn tại trong một file duy nhất. Định dạng xử lý dữ liệu thiên văn chuyên biệt: khối quang phổ, độ hiện giao thoa vô tuyến, ảnh mosaic nhiều phần mở rộng từ mảng CCD và đo sáng chuỗi thời gian. Một ưu điểm là độ chính xác khoa học: FITS yêu cầu tất cả metadata cần thiết để diễn giải dữ liệu về mặt vật lý — chuyển đổi tọa độ (WCS), hiệu chuẩn quang độ, thông số kính thiên văn và thiết bị — đi kèm với file, loại bỏ vấn đề mất metadata mà các định dạng ảnh thông thường gặp trong bối cảnh khoa học. Độ bền và sự hỗ trợ của các tổ chức là một điểm mạnh khác — hầu như mọi đài thiên văn, kính thiên văn vũ trụ (Hubble, James Webb, Chandra) và gói phần mềm thiên văn (DS9, IRAF, Astropy) đều sử dụng FITS làm định dạng dữ liệu chính.